Return to list post new topic
print

o nhiem moi truong chieu toi khat vong song xin loi doc sach

o nhiem moi truong chieu toi khat vong song xin loi doc sach

bài văn về ô nhiễm môi trường 
phân tích bài chiều tối 
nghị luận xã hội về khát vọng sống 
nghị luận lời xin lỗi 
nghị luận về việc đọc sách 


bài văn về ô nhiễm môi trường 
phân tích bài chiều tối 

hai câu đầu vẽ nên 1 bức tranh nên thơ, thái bình của cuộc sống, chim bay về rừng sắm chốn cư trú, đám mây trôi lờ lững trên bầu trời chiều, chỉ vài nét chấm phá, các bức họa (trong bài thơ có họa) của thơ xưa. Song, phong vị cổ thi đấy do gần gũi về văn pháp. Còn thực ra, đây vẫn là buổi chiều nay, với cảnh thật và người thật (người tội phạm – nhà thơ) đang tận mắt nhìn ngắm.

Bức tranh phong cảnh kia tuy đẹp và nên thơ nhưng vẫn có nét buồn. Quyện tức thị mỏi, chán, mệt mỏi. Tầm là kiếm tìm. Cánh chim sau ngày rong ruổi, trong cái giờ khắc của ngày tàn, mệt mỏi, phải trở về rừng đặng tìm kiếm chỗ trú. Cô là trơ tráo, 1 mình. Mạn mạn là dài và rộng, ko là trên bầu trời dài, rộng bát ngát. Bản thân bầu trời vẫn dài rộng như là triệu năm qua, nhưng đám mây đơn lẻ kia đã khiến nó càng trở nên mênh mang hơn. hai câu thơ, theo đúng nghĩa đen cũng chỉ ra một cảnh buồn. có người bình thường, thậm chí đang vui, trước cảnh đó, lòng hẳn không sao tránh 1 xúc cảm man mác, bâng khuâng. Câu thơ khiến cho người ta liên tưởng tới 1 buổi chiều khác, trong thơ cổ:

“Mộ” là bài thơ rất tiêu biểu cho cá tính nghệ thuật thơ Hồ Chí Minh khi dùng thể thơ luật tuyến đường, tác fake đã ứng dụng tương đối nhuần nhuyễn bút pháp chấm phá để tả cảnh, lấy động tả tĩnh, đặc trưng là lấy cảnh tả tình. Trong bài thơ, ko có trong khoảng hay chi tiết nhắc về chủ thể trữ tình, nhưng người đọc vẫn nhận ra đôi mắt, tấm lòng của con người ấy. không những thế, dù với phong vị cổ điển, đây vẫn là bài thơ đương đại. Chất đương đại diễn tả ở sự chuyển di hình tượng thơ, nhất là ở tấm lòng và tư tưởng của thi nhân. Dù bị gông cùm, xiềng xích, con người chậm triển khai vẫn khôn cùng thung dung tự tại, luôn quên mình để nhìn ngắm cuộc sống và rung động có từng biểu thị, dù chỉ nhỏ nhoi, tinh tế.Sau 1 ngày kiếm ăn, chim chiều mỏi mệt, mua khu rừng cây quen thuộc để ngủ qua đêm. Chim mỏi về rừng báo hiệu ngày tàn, nhường nhịn chỗ cho bóng đêm. Nhưng người đi các con phố vẫn chưa được dừng bước, không rõ đi tới đâu, cũng không biết bao giờ với dược chốn ngủ như những cánh chim kia.

1 nỗi u hoài man mác dâng lên trong lòng người đi: tình cảnh mất tự do giữa đất khách quê người, cảnh vật gợi vẻ u ám của một buổi chiều tàn.
2. Bầu trời buổi chiều tối còn vương lại một chút ánh sáng nhạt mờ, vừa đủ cho nhà thơ nhận ra một chòm mây trật đang lờ lững trôi:

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;

Cảnh đẹp như 1 bức tranh thúy mặc nhưng cũng thật buồn, càng khêu gợi nỗi cô đơn của người đi con đường. Hơn nữa, đây còn là một người tù túng phải chứa bước dù đã mỏi mệt suốt 1 ngày dài.

hai câu thơ tả cảnh nhưng thật gợi tình, như kín đáo phân bua 1 tâm trạng, một nỗi niềm.

3. Nhưng giữa cảnh núi rừng bao la chập chồng đang chìm dần vào bóng tối, nổi bật một đốm lửa hồng soi hình bóng của một cô gái lao động:

Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết, lò than đã rực hồng.

bên cạnh trục đường miền núi sở hữu một xóm nhà nhỏ, mang lè lác đác. Cảnh thật thông thường, nhưng ngay khi chậm tiến độ người tầy chợt trông thấy một hình ảnh gây xúc động mãnh liệt: cô gái nhỏ xay ngô và ánh lửa hồng của lò than. chậm triển khai là hình ảnh bình dị về cuộc sống thông thường của người lao động. Sau 1 ngày làm việc ở ngoài đồng, chắc là rất nặng nhọc, những người nông dân trở về nhà để ăn tối và ngơi nghỉ. Cô gái nhỏ này hẳn là con hoặc em gái trong gia đình, chuẩn bị bữa ăn cho các người gần trở về. Hình ảnh cô gái nhỏ xay ngô và hình ảnh ngọn lửa xuất hiện trong bóng chiều chập choạng thật đơn sơ, giản dị, nhưng cũng thật đẹp, đáng yêu và ấm lòng.

nhận ra những chi tiết của bức tranh Đó, thi sĩ đích thực cảm động và thông cảm mang cuộc sống của người lao động: nghèo, vất vả, nhưng ấm cúng và lạc quan. Đóng lại bài thơ bằng một từ “hồng” đầy sức nặng, thi sĩ như muốn ấp ôm ngọn lửa hồng ấy trong trái tim mình, vui sướng vì ngọn lửa của cuộc sống bình dị luôn sáng ấm.

4. Bài thơ đã phối hợp 1 bí quyết phối hợp bút pháp cổ điển và tiên tiến. Cảnh buổi chiều nơi núi rừng bao trùm cả bầu trời, mặt đất, cả đột nhiên và con người, chỉ được ghi loáng thoáng vài nét đơn sơ: 1 cánh chim, một chòm mây, một cô gái bên lò than nơi xóm núi. Chỉ đơn sơ vài nét như trong một bài thơ cổ, nhưng ta cảm nhận được cái hồn của cảnh vật, tuy buồn mà vẫn ấm áp, đặc trưng lại sở hữu niềm vui bình dị trong bài thơ Chiều tối: nhà ai bên bếp lửa hồng tỏa sáng hình bóng khỏe khoắn của cô gái xay ngô.



Trong tình cảnh bị đày ải trên phố xa, cô độc, mệt mỏi giữa núi rừng nơi đất khách quê người vào khi chiều tối, tác fake nhìn cảnh vật vẫn cảm thấy rét mướt vui tươi qua ánh lửa hồng rực sáng. Điều chậm tiến độ chứng tỏ mọi vui buồn của bác đều gắn sở hữu vui buồn của con người, hầu như không phụ thuộc vào cảnh ngộ của riêng mình.

III. Kết bài

- bỗng dưng và con người được mô tả trong bài thơ bằng vài nét chấm phá: hình ảnh cô em xóm núi xay ngô trở thành trung tâm bức tranh, đẩy lùi nền trời chiều với cánh chim bay mỏi, chòm mây bay chậm.

- Nhưng bài thơ ko tả 1 khung cảnh đìu hiu mà tả cảnh sống đời thường sở hữu vẻ thanh bình, rét mướt.

Tạo vật khi này đang chuyển dần sang tình trạng ngơi nghỉ sau một ngày chuyển động mệt mỏi. Trời tối, các con chim sau 1 ngày tìm mồi kiếm sống cũng đã cảm thấy uể oải cần phải nghỉ ngơi. Tuy là “chim trời”, những con chim cũng cố tìm về khu rừng nơi với tổ ấm của mình để ngủ qua đêm chứ chẳng thể dừng lại ở bất kì nơi nào được. Hình ảnh cánh chim nhá nhem trên trời khoảng trời chiều vốn là 1 hình ảnh thân thuộc trong thơ ca:

“Chim bay về núi tối rồi”

(Ca dao)

“Chim hôm thoi thót về rừng”

(Truyện kiều)

“Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”

(Tràng giang – Huy cận)

Hình ảnh con chim trở về rừng, không những báo hiệu cho biết ngày đã pha phôi, bóng tối gần phủ trùm xuống mà con cho thấy rõ thêm tâm cảnh của Người tội phạm bị áp điệu trên phố, khi ấy là vẫn phải đi, dù muốn dừng bước cũng đâu thế chủ động được, lại chẳng thể mang 1 nơi nhất thời gọi là tổ ấm để trở về. Hình ảnh đó cũng làm cho cảm xúc về nỗi xa nhà, xa quê hương, về tình cảm cầm tù, mất tự do, thêm sâu sắc hơn, Người đọc nhận ra 1 nỗi u hoài man mác trong khoảng hình ảnh đấy gợi nên.

Tiếp theo là hình ảnh con chim về rừng là hình ảnh mà thi sĩ bao quát được khi nhìn lên bầu trời khi đấy.

“Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”

Nguyên văn: “Cô vân mạn mạn độ thiên không” tức là đám mây lẻ loio chậm chậm đi qua bầu trời. Giữa bầu trời tĩnh lặng, làn mây che mặt trời cũng uể oải, mỏi mệt, cũng muốn mua chỗ trú chân. Ngay thi sĩ lúc này cũng chẳng thể khác. Bị giải đi trên đường, chiều tối rồi, Ngưoiừ cũng muốn có chốn nghỉ nhưng biết khiến cho sao được! Cảnh trong 2 câu thơ đều thật đẹp và gợi buồn như 1 bức tranh mực tàu vẽ phác gợi lên nỗi niềm cô quạnh hiu của Người tù túng xa quốc gia, xa quê hương, xa bạn bè và quyến thuộc hiện đang bị trói, bị dẫn giải. Dù tối rồi, Người vẫn phải tiếp diễn chứa bước trên đường thẳm tuy là đã mỏi mệt, sau một ngày đi đường khó nhọc. thành ra, mang người nhận xét là cảnh trong hai câu thơ vừa tương đồng mà cũng vừa tương phản có tình cảnh của thi sĩ.

Hết nhìn xa, nhìn bao quát, người phạm nhân thi sĩ lại nhìn sang bên tuyến đường.

“Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hộc”

Nguyên văn:

“Sơn thôn thiếu nữa ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

nghị luận xã hội về khát vọng sống 
nghị luận lời xin lỗi 
nghị luận về việc đọc sách 

TOP

Return to list