Return to list post new topic
print

thon vi da bieu cam nghi luan cau phu dinh trang giang pac bo

thon vi da bieu cam nghi luan cau phu dinh trang giang pac bo

phân tích bài thơ đây thôn vĩ dạ 
ngữ văn 8 luyện tập đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận 
soạn bài câu phủ định 
những nhận định hay về bài thơ tràng giang 
tình yêu thiên nhiên qua bài tức cảnh pác bó
 

phân tích bài thơ đây thôn vĩ dạ 
ngữ văn 8 luyện tập đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận 

Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được trình bày khá rõ ngay trong khoảng bốn câu trước nhất này. 2 từ láy nguyên “điệp điệp”, “song song” ở cuối hai câu thơ sở hữu đậm sắc thái cổ kính của đường thi. Và không chỉ mang nét đẹp đấy, nó còn đầy sức gợi hình, gợi liên tưởng về các con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, dòng nước thì cứ cuốn đi xa tận nơi nào, miên man liên miên. Trên mẫu sông gợi sóng “điệp điệp”, nước “song song” đấy là 1 “con thuyền xuôi mái”, lững lờ trôi đi. Trong cảnh có sự đi lại là thế, nhưng sao chỉ thấy vẻ yên tờ, mông mênh của thiên nhiên, 1 loại “tràng giang” dài và rộng mênh mông không biết tới nhịn nhường nào.

cái sông thì mông mênh khôn cùng, bất tận, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp trong lòng:

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi 1 cành khô lạc mấy chiếc.

Thuyền và nước vốn đi liền nhau, thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vào thuyền. thế mà Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia lìa, xa cách “thuyền về nước lại”, nghe sao đầy xót xa. Chính lẽ do đó mà gợi nên trong lòng người nỗi “sầu trăm ngả”. trong khoảng chỉ số phổ biến “trăm” hô ứng cùng từ chỉ số “mấy” đã thổi vào câu thơ nỗi buồn vô biên.



Tâm hồn của chủ thể trữ tình được biểu thị phần đông nhất qua câu thơ đặc sắc: “Củi một càng khô lạc mấy dòng”. Huy Cận đã khéo sử dụng phép đảo ngữ phối hợp mang những trong khoảng ngữ chọn lọc, diễn đạt nổi cô đơn, lạc điệu trước vũ trụ bát ngát. “Một” gợi lên sự ít ỏi, nhỏ bé, “cành khô” gợi sự khô héo, cạn kiệt sức sống, “lạc” có nỗi sầu vô định, trôi nổi, bồng bềnh trên “mấy dòng” nước bỗng nhiên rộng lớn bao la. Cành củi khô chậm triển khai trôi dạt đi nơi nào, hình ảnh giản dị, không thêu dệt mà sao đầy rợn ngợp, khiến cho lòng người đọc cảm thấy trống trải, đơn độc.

Nét đẹp cổ điển “tả cảnh ngụ tình” thật khéo léo, tài tình của tác giả, đã gợi mở về 1 nỗi buồn, u sầu như con sóng sẽ còn vỗ mãi ở những khổ thơ còn lại để người đọc mang thể thông cảm, thấu hiểu về 1 nét tâm cảnh thường gặp ở các nhà thơ mới. Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhìn ra một vẻ đẹp tiên tiến rất thi vị của khổ thơ. chậm triển khai là ở phương pháp đề cập “Củi một cành khô” thật đặc biệt, ko chỉ thâu tóm cảm xúc của toàn khổ, mà còn hé mở tâm trạng của nhân vật trữ tình, một nỗi niềm trơ tráo, lạc lõng.

Nỗi lòng đó được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh hiu quạnh của không gian lạnh lẽo:

lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

2 từ láy “lơ thơ” và “đìu hiu” được tác fake khéo bố trí trên cộng một loại thơ đã vẽ nên 1 quang cảnh vắng yên ổn. “Lơ thơ” gợi sự ít oi, bé nhỏ “đìu hiu” lại gợi sự đìu hiu. Giữa khung cảnh “cồn nhỏ”, gió thì “đìu hiu”, 1 quang cảnh lạnh lẽo, tiêu điều đấy, con người trở nên trơ trẽn, rợn ngộp tới độ thốt lên “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. Chỉ 1 câu thơ mà mang phổ thông sắc thái, vừa gợi “đâu đó”, âm thanh xa xôi, không rõ rệt, sở hữu thể là câu hỏi “đâu” như 1 nỗi niềm khát khao, mong mỏi của thi sĩ về một tí sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người. chậm tiến độ cũng có thể là “đâu có”, một sự phủ định hoàn toàn, chung nói quanh nói quẩn đây ko phải mang chút gì sống động để xua bớt mẫu tịch liêu của bất chợt.

Đôi mắt nhân vật trữ tình nhìn theo nắng, theo cái trôi của sông:

“Nắng xuống, trời lên sâu chon von,
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”

“Nắng xuống, trời lên” gợi sự đi lại, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia lìa: bởi nắng và trời nhưng mà tách bạch khỏi nhau. “Sâu chót vót” là cảnh biểu hiện mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, có 1 nét đẹp hiện đại. Đôi mắt nhà thơ ko chỉ giới hạn ở bên ngoài của trời, của nắng, mà như xuyên thấu và cả vũ trụ, cả ko gian minh mông, bất tận. Cõi đột nhiên đấy quả là mông mênh mang “sông dài, trời rộng”, còn các gì thuộc về con người thì lại bé nhỏ, đơn chiếc biết bao: “bến cô liêu”.

Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong tuyến đường thi như: sông, trời, nắng, cuộc sống con người thì buồn tẻ, ngao ngán sở hữu “vãn chợ chiều”, mọi thứ đã tan rã, chia lìa.

nhà thơ lại nhìn về dòng sông, nhìn cảnh tiếp giáp với mong mỏi sở hữu chút gì quen thuộc đem đến hơi ấm cho tâm hồn đang chìm vào giá lạnh, về đơn chiếc. Nhưng tự nhiên đã đáp trả sự khao khát đấy bằng các hình ảnh càng quạnh vắng, đìu hiu:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng,
mông mênh ko một chuyến đò ngang.
không cần gợi chút niềm thân mật,
âm thầm bờ xanh tiếp bãi vàng.

Hình ảnh cánh bèo trôi rập ràng trên sông là hình ảnh thường dùng trong thơ cổ điển, nó gợi lên 1 cái gì cập kênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa dòng đời. Nhưng trong thơ Huy Cận không chỉ có 1 hay hai mặt nước cánh bèo, mà là “hàng nối hàng”. Bèo trôi hàng hàng càng khiến cho lòng người rợn ngộp trước bất chợt, để trong khoảng chậm triển khai cõi lòng càng đau đớn, cô đơn. kế bên hàng nối hàng cánh bèo mặt nước là “bờ xanh tiếp bãi vàng” như mở ra 1 ko gian minh mông khôn cùng, bất tận, khi không nối tiếp thiên nhiên, nhường nhịn không sở hữu con người, không sở hữu chút sinh hoạt của con người, ko với sự giao hoà, nối kết:

minh mông ko một chuyến đò ngang
ko cầu gợi chút niềm thân tình.

Tác fake đưa ra cấu trúc phủ định. “…Không…không” để phủ định hoàn toàn các kết nối của con người. Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút gì gợi niềm thân tình để kéo mình ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm, vây kín, chỉ mang 1 bất chợt mênh mông, bát ngát. Cầu hay chuyến đò ngang, công cụ giao ước của con người, tuồng như đã bị cõi thiên nhiên nhấn chìm, trôi đi nơi nào.

Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

văn pháp chấm phá mang “mây cao đùn núi bạc” thành “lớp lớp” đã làm cho người đọc hình dong ra các núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc. Hình ảnh sở hữu nét đẹp cổ điển thật trữ tình và lại càng thi vị hơn lúc nó được khơi nguồn cảm hứng trong khoảng một tứ thơ các con phố cổ của Đỗ Phủ:

Mặt đất mây đùn cửa ải xa.

Huy Cận đã vận dụng rất tài hoa động từ “đùn”, khiến mây như đi lại, có nội lực trong khoảng bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Đây cũng là 1 nét thơ đầy chất tiên tiến, bởi nó đã ứng dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc.

soạn bài câu phủ định 
những nhận định hay về bài thơ tràng giang 
tình yêu thiên nhiên qua bài tức cảnh pác bó 

TOP

Return to list